Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2010

ÂM NHẠC

Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt tình cảm, cảm xúc của con người. Nó được chia ra hai loại chính, đó là Thanh nhạc và Khí nhạc. Thanh nhạc là âm nhạc dựa trên lời hát thể hiện rõ ý tưởng và tình cảm. Còn khí nhạc là âm nhạc dựa trên âm thanh thuần tuý của các nhạc cụ, nên trừu tượng, gây cảm giác và sự liên tưởng.
Ký hiệu âm nhạc là toàn bộ các dấu hiệu cũng như chữ viết được dùng để ghi lại âm thanh với các đặc tính của chúng. Môn ký âm là ghi âm thanh lại bằng các ký hiệu âm nhạc trên giấy. Có các ký hiệu âm nhạc dùng để quy định cao độ, trường độ, cường độ cho bản nhạc.
Tác dụng của âm nhạc
Âm nhạc có ảnh hưởng đến đời sống con người. Chỉ có con người mới có khả năng hưởng thụ âm nhạc[cần chú thích]. Các nghiên cứu đã chỉ ra, âm nhạc, đặc biệt là nhạc giao hưởng có tác dụng tốt, kích thích sự phát triển trí não. Do đó người ta khuyên cho trẻ nghe nhạc để phát triển trí tuệ của chúng.
Trước đây, nhất là trong thời đại La Mã, các chiến binh trước khi ra trận thường được nghe các khúc nhạc mạnh mẽ mang tích chất cỗ vũ, khích lệ để họ lấy đuợc tinh thần chiến đấu dũng cảm. Khi giao tranh, để cổ vũ cho tinh thần binh sỹ người ta cũng thường đánh trống, khua chiêng một cách dồn dập để các chiến binh xông lên.
Giai đoạn cuối của các cuộc giao tranh giữa Hán và Sở, Trương Lương là một nhà chính trị, tư tưởng kiệt xuất thời đó cũng đã dùng tiêu để thổi một khúc nhạc dưới ánh trăng bạc, khiến hàng vạn quân Sở do Hạng Vũ chỉ huy bỏ chốn và đầu hàng Hàn Tín làm quân của hai bên không bị đổ máu quá nhiều.
Người ta cũng cho rằng âm nhạc làm dịu tâm thần. Một liệu pháp chữa bệnh được áp dụng kết hợp cho các bệnh nhân tầm thần là dùng âm nhạc làm giảm các cơn phấn khích, đưa người bệnh vào trạng thái buồn ngủ.
Thang âm
Trong âm nhạc, người ta thường chia cao độ theo các thang âm. Thông thường, có thang 7 nốt kiểu châu Âu: Đô, Rê, Mi, Pha, Son, La, Si; hoặc thang 5 nốt kiểu châu Á, như trong các bài hát cổ của Việt Nam, đó là hò, xừ, xang, xê, cống; và còn nhiều kiểu thang khác nữa. Ấn Độ cũng có thang 7 nốt, nhưng cao độ các nốt này lại không trùng với các nốt ở thang âm châu Âu. Thang nhạc của người da đen (nhạc Jazz và nhạc Blues) thì chỉ có 5 nốt, tương ứng với thang âm châu Âu là : Đô, Mib/Mi, Son/Pha, Son, Sib/Si, từ đó có tên gọi "nốt xanh" (blue note) cho 2 nốt có cao độ ở vị trí Mib/Mi, Sib/Si và gam xanh cho các gam nhạc có nốt xanh.
llsoundandlightll@gmail.com 0906715077 - 0956180088

ÂM HỌC

Âm học là một nhánh của vật lý học, nghiên cứu về sự lan truyền của sóng âm thanh trong các loại môi trường và sự tác động qua lại của nó với vật chất Các hướng nghiên cứu trong ngành âm học vĩ mô hiện nay:
Sự truyền âm trong môi trường biến động
Sự khuyếch tán âm thanh trong môi trường không đồng chất, trong các môi trường không được sắp xếp theo thứ tự nhất định
Đặc điểm của các quá trình vi mô trong trường sóng âm thanh
Trạng thái của vật chất trong trường sóng siêu âm
Ở mức độ vi mô, dao động đàn hồi của môi trường được miêu tả bởi các phônôn - sự dao động tập thể của các nguyên tử và iôn. Trong kim loại và chất bán dẫn, những dao động như vậy của các iôn gây ra các dao động điện. Như vậy ở cấp bậc vi mô, âm thanh có thể sinh ra dòng điện. Một bộ phận của âm học, nghiên cứu hiện tượng trên và các ứng dụng của nó, gọi là điện-âm học.
Một hướng nghiên cứu nữa của âm học là quang-âm học, ngành khoa học nghiên cứu sự tương tác qua lại của sóng âm thanh và sóng ánh sáng trong môi trường, trong đó có sự nhiễu xạ của ánh sáng trong môi trường sóng siêu âm.
Trong mối quan hệ có tầm quan trọng lớn của sóng âm thanh với cuộc sống sinh hoạt, âm học còn chia ra các hướng nghiên cứu như: âm học khí quyển, âm học địa lý, thủy âm học, âm học liên quan với các ngành sinh học, kiến trúc, phép dò khuyết tật ...
llsoundandlightll@gmail.com 0906715077 - 0956180088

LOA ĐIỆN ĐỘNG

LOA ĐIỆN ĐỘNG
Loa điện động là một thiết bị có thể biến đổi tín hiệu điện thành chuyển động cơ học để tái tạo âm thanh nằm trong dải tần số từ 16Hz đến 20.000Hz mà con người nghe được.
Cấu tạo và nguyên lý hoạt động

Loa điện động hoạt động dựa trên nguyên tắc một cuộn dây đặt trong một từ trường mạnh của nam châm. Khi có dòng điện âm tần chạy qua, cuộn dây sẽ dao động. Do cuộn dây được nối với màng loa nên các dao động này được truyền ra không khí, tác động vào người nghe.
Dù thuộc thể loại nào thì loa cũng phải có một bộ phận quan trọng gọi là màng rung (hoặc màng loa). Màng rung là nơi âm thanh được phát ra để đến với tai người nghe. Tuỳ từng loại loa khác nhau mà nguyên lý làm rung màng rung là khác nhau.
Đa số các loa màng rung được gắn với một cuộn dây, cuộn dây này được định vị trong khe hẹp có từ trường mạnh được sinh ra giữa hai cực của một nam châm vĩnh cửu. Khi cho dòng điện tín hiệu đi qua cuộn dây thì cuộn dây xuất hiện lực từ làm rung nó, sự rung động của cuộn dây sẽ làm chuyển động màng loa.
Do hạn chế riêng về cấu tạo, mỗi loại loa điện động theo nguyên lý sử dụng nam châm điện vĩnh cửu thường chỉ phát được âm thanh tốt nhất ở một dải tần nhất định nào đó mà không thể phát toàn dải âm nghe được (16 Hz đến 20.000 Hz).
Ở dải tần thấp, âm thanh cần có biên độ lớn để tai người cảm nhận được, màng loa phải có cấu tạo kích thước rộng, các cuộn dây có biên động giao động lớn trong khe từ.
Ở dải tần cao, để đáp ứng sự giao động nhanh và liên tục, màng loa phải đủ nhỏ, mềm để không cản trở.
Ở dải tần trung bình hoặc từng dải tần nhất định, màng loa cần được tính toán để phù hợp nhất với tần số phát thiết kế.
Như vậy, để có thể truyền tải âm thanh ở đủ mọi dải tần nghe được, một bộ loa cần sử dụng nhiều loa với đường kính và cấu tạo khác nhau (thông thường một thùng loa có chất lượng tốt thường bao gồm bốn đến năm loa, trong đó: một loa trầm, hai loa trung và một đến hai loa phát tần số cao)
Các bộ phận khác rất khác nhau tùy thuộc vào từng loại loa, sẽ được trình bày tại từng loại loa riêng biệt.
Phân loại
Loa nén
Loa nén hay còn gọi là loa nón là loại loa dùng để trang âm cho một vùng rộng lớn.
Loa nén có hệ thống cộng hưởng âm thanh qua 3 lần trước khi phát ra ngoài. Tại vị trí màng rung được thiết kế buồng khép kín chỉ có một đoạn ống hình loe ra phía ngoài kéo dài một đoạn, cuối đoạn ống có một đoạn ống cũng hình loe được úp ngược lại và cuối cùng đoạn đoạn loe khép ngược là một vách loa cuối cùng loe rộng ra ngoài như ta thường thấy.
Loa nén thường được sử dụng nhiều nhất trong việc truyền thông tin đại chúng (như các đài phát thanh phường, xã), dùng trong các xe cứu thương, cảnh sát, dùng cầm tay hoặc trang bị trên các xe mô tô cảnh sát.
Loa thông dụng
Loa thông dụng là các loa dùng phát âm thanh thuộc thể loại âm nhạc. Chúng gồm nhiều thể loại phục vụ riêng cho từng dải tần số khác nhau.
Loa thông dụng thường có các loại màng loa có hình dạng và kích thước khác nhau cho các dải tần số phát khác nhau. Màng loa có đường kính lớn thường cho loa trầm và siêu trầm (bass), các màng loa đường kính trung bình cho dải tần số mức trung bình và các màng loa nhỏ cho các loa có tần số cao (loa treble).
Thông số của loa
Loa điện động thường có các thông số cơ bản sau:
Điện trở loa: Thường ký hiệu bằng ôm (Ω) xác định bằng điện trở của loa khi đo ở tần số 1 Khz.
Công suất danh định: Công suất điện, tính bằng VA hoặc W.
Dải tần tái tạo.
Trở kháng loa.
Hệ số sóng hài
Áp lực âm tiêu chuẩn trung bình...
llsoundandlightll@gmail.com 0906715077 - 0956180088

ĐĨA QUANG(OPTICAL DISC)

optical disc) là thuật ngữ dùng để chỉ chung các loại đĩa mà dữ liệu được ghi/đọc bằng tia ánh sáng hội tụ. Tuỳ thuộc vào từng loại đĩa quang (CD, DVD...) mà chúng có các khả năng chứa dữ liệu với dung lượng khác nhau.
Đĩa quang là dạng lưu trữ dữ liệu không mất dữ liệu khi ngừng cung cấp điện (non-volatile).
Tổng quan
Về cơ bản lưu trữ dữ liệu dạng đĩa trên máy tính được chia thành hai loại: ghi nhớ dữ liệu theo nguyên lý sử dụng từ tính và quang học. Với nguyên lý từ tính, chúng gồm các loại đĩa cứng, đĩa mềm. Với nguyên lý quang học, đại diện cho chúng là các đĩa CD, DVD và với các chuẩn mới ngày nay. Lưu trữ dựa trên từ tính rất thông dụng và xuất hiện trên hầu hết các máy tính (xem thêm bài ổ đĩa cứng) với đặc điểm là dung lượng lớn, việc ghi dữ liệu thuận tiện. Với các đĩa quang học việc ghi dữ liệu khó khăn hơn, phải thực hiện trên các đĩa quang riêng và ổ đĩa quang có tính năng ghi dữ liệu.
Lịch sử phát triển
Được phát triển vào khoảng cuối thập niên 1960, đĩa quang đầu tiên được phát minh bởi James Russell.
Nguyên lý lưu trữ dữ liệu
Không giống như các đĩa cứng được ghi dữ liệu lên bề mặt bằng từ, đĩa quang (theo đúng như ý nghĩa của tên gọi) sử dụng các tính chất quang học để lưu trữ dữ liệu. Khái niệm track trên đĩa quang cũng giống như ổ đĩa cứng, mỗi track là một vòng tròn, tuy nhiên ở đĩa quang các track là các vòng tròn hở nối tiếp nhau.
Trên đĩa quang có các rãnh theo hình xoắn chôn ốc từ trong ra ngoài (không giống như các track đồng tâm ở ổ đĩa cứng) chứa các chấm (dot) sáng (có khả năng phản xạ tia sáng đến) và tối (không phải xạ hoặc phản xạ yếu đối với tia sáng chiếu vào), tia ánh sáng (thường là tia lade (laser) có công suất thấp) đọc các chấm và chuyển sang tín hiệu nhị phân.
Tia sáng khi chiếu vào bề mặt đĩa quang nếu gặp một điểm sáng, tia sáng sẽ được phản xạ ngược lạ nguồn phát sáng, khi gặp một điểm tối, tia lade không phản xạ ngược lại bởi điểm tối đã hấp thụ tia sáng (chuyển hoá chúng thành nhiệt năng nên đĩa quang thường nóng lên khi làm việc).
Tại ổ đĩa quang, trên đường chiếu của tia sáng có hệ lăng kính để phản xạ tia sáng truyền ngược lại (khi chiếu vào điểm sáng) để không chuyển tia sáng này về nguồn phát, mà đổi hướng chúng đến một bộ cảm biến để nhận tín hiệu (thường là các điốt cảm quang).
Tín hiệu nhận được dạng nhị phân, tương ứng với điểm sáng và tối sẽ cho kết quả 0 và 1.
Cấu tạo và thông số
Đĩa quang có nhiều loại khác nhau (CD, DVD,...), ghi dữ liệu một mặt đĩa hoặc ghi cả ở hai mặt dĩa, do đó chúng có cấu tạo rất khác nhau. Ở các loại đĩa quang khác nhau, xem cụ thể cấu tạo của chúng tại từng bài cụ thể.
Cấu tạo
Một cách chung nhất, đĩa quang có cấu tạo gồm:
Lớp nhãn đĩa (chỉ có ở loại đĩa quang một mặt)
Lớp phủ chống xước (chỉ có ở loại đĩa quang một mặt).
Lớp bảo vệ tia tử ngoại.
Lớp chứa dữ liệu.
Lớp polycarbonat trong suốt (phía bề mặt làm việc)
Đối với loại đĩa quang ghi dữ liệu ở cả hai mặt, các lớp được bố trí đối xứng nhau để đảm bảo ghi dữ liệu ở cả hai mặt đĩa.
Kích thước
Tuỳ từng loại đĩa quang khác nhau mà chúng có các kích thước khác nhau (xem từng bài riêng biệt theo bảng). Chúng thường được chia thành các loại chính sau:
Đĩa lade có kích thước lớn nhất: đường kính ngoài đến 300 mm.
Đĩa CD/DVD có cùng kích thước: đường kính ngoài đên 120 mm.
Một số loại đĩa quang có hình dáng thiết kế mỹ thuật: hình dáng bên ngoài có thể gần giống hình tròn (đảm bảo chống rung lệch khi đọc đĩa) như quả bóng, trái tim...như một sự độc đáo.
Một số khái niệm
Track là những vòng tròn (hở) đồng tâm nhau trên mặt làm việc của đĩa quang. Các track được nối liền nhau thành một đường xoắn chôn ốc.
Sector là những khoảng chứa dữ lệu nhỏ trên track (tương tự trên ổ đĩa cứng).
Tuỳ từng loại đĩa quang mà số lượng track và khoảng sector là khác nhau.
Phân loại
Đĩa quang được chia thành nhiều loại khác nhau (xem bảng bên phải). Về dạng thức dữ liệu tồn tại: Đĩa quang thường được chia thành các loại sau:
Đĩa đã ghi dữ liệu: Loại đĩa ca nhạc, phim, phần mềm...ngay từ khi bán ra thị trường. Loại này người sử dụng không thể ghi thêm dữ liệu vào được (trừ một số trường hợp đặc biệt).
Đĩa chưa ghi dữ liệu - Loại ghi một lần: Đĩa được sản xuất chưa được ghi dữ liệu nhưng chỉ cho phép người sử dụng ghi dữ liệu lần đầu tiên. Đây cũng chỉ là khái niệm tương đối, người sử dụng có thể có cách thức ghi dữ liệu sao cho một đĩa có thể ghi nhiều lần liên tiếp nhau cho đến khi đĩa được ghi hết chỗ trống. Loại đĩa này thường có ký hiệu “R”
Đĩa chưa ghi dữ liệu - Loại ghi nhiều lần: Đĩa được sản xuất chưa ghi dữ liệu nhưng cho phép người sử dụng có thể ghi dữ liệu và sau đó có thể xoá đi để ghi lại dữ liệu khác (hoàn toàn khác nội dung trước đó). Loại này thường có ký hiệu: “RW”
Với dạng thức: Số mặt chứa dữ liệu, đĩa quang có hai dạng sau:
Đĩa chỉ có một mặt chứa dữ liệu: Là loại đĩa thông dụng nhất: Dữ liệu chỉ chứa trên một mặt của đĩa, mặt còn lại thường là nhãn đĩa và các lớp bảo vệ.
Đĩa có cả hai mặt chứa dữ liệu: (kiểu tương tự các đĩa nhựa của các máy hát cổ điển) Cả hai mặt đĩa đều được ghi dữ liệu do đó loại đĩa này thường không có lớp nhãn đĩa hoặc các lớp bảo vệ phần dữ liệu. Người sử dụng có thể lật mặt đĩa để đọc dữ liệu tại mặt còn lại. Dung lượng đĩa hai mặt lớn nhất (tất nhiên) gấp đôi đĩa một mặt.
Ghi dữ liệu
Tuỳ theo nguồn gốc ghi chứa dữ liệu mà đĩa quang có thể được ghi dữ liệu bằng các thiết bị công nghiệp (sản xuất hàng loạt) hoặc do người sử dụng tự ghi dữ liệu của họ.
Sản xuất trong công nghiệp
Ghi dữ liệu trong công nghiệp hoàn toàn khác với cách thức ghi dữ liệu ở người sử dụng: Ghi theo một quy trình sản xuất từng lớp đĩa riêng biệt theo dạng tạo khuôn mẫu, do đó các đĩa ghi công nghiệp thường bền hơn. Để phân biệt, sự dễ nhận thấy nhất là các đĩa quang ghi trong công nghiệp có bề mặt làm việc màu ánh kim (trắng).
Các đĩa quang ghi công nghiệp thường thực hiện với số lượng lớn, khi đó chúng có giá thành/chiếc thấp hơn so với các đĩa được ghi do người sử dụng (so sánh cùng chất lượng đĩa).
Ghi đĩa ở người sử dụng
Ngoài các thiết bị ghi dữ liệu chuyên dụng, người sử dụng chỉ có thể ghi dữ liệu vào đĩa quang bởi các ổ đĩa quang có chức năng ghi được sản xuất dưới dạng phôi trắng (không chứa dữ liệu, có khả năng ghi).
Khi ghi dữ liệu, ổ đĩa quang phát ra một tia lade (khác với tia để đọc dữ liệu) vào bề mặt đĩa. Tuỳ theo loại đĩa quang là ghi một lần hoặc nhiều lần mà cơ chế làm việc ở đây khác nhau:
Với loại đĩa quang ghi một lần: Lớp chứa dữ liệu là lớp màu polymer hữu cơ: Tia lade sẽ đốt lớp màu này tại từng điểm khác nhau (theo yêu cầu ghi dữ liệu) để tạo thành các điểm tối, các điểm còn lại không được đốt là các điểm sáng.
Với loại đĩa quang ghi lại nhiều lần: Lớp chứa dữ liệu là lớp kim loại có thể chuyển biến trạng thái: trạng thái tinh thể (phản xạ với ánh sáng) và trạng thái vô định hình (không phản xạ ánh sáng chiếu vào). Khi ghi dữ liệu vào loại đĩa này, ổ đĩa quang cần thực hiện hai công đoạn: dùng tia lade để xoá dữ liệu và ghi dữ liệu mới.
llsoundandlightll@gmail.com 0906715077 - 0956180088

Ổ ĐĨA QUANG

Ổ đĩa quang là một loại thiết bị dùng để đọc đĩa quang, nó sử dụng một loại thiết bị phát ra một tia laser chiếu vào bề mặt đĩa quang và phản xạ lại trên đầu thu và được giải mã thành tín hiệu. Bài này viết về những ổ đĩa quang được sử dụng trong các máy vi tính bao gồm ổ đọc dữ liệu (Read-only) và ổ đọc-ghi kết hợp (Burn and Read)
Kỹ thuật trong ổ đĩa quang
Sử dụng một loại thiết bị phát ra một tia laser chiếu vào bề mặt đĩa quang và phản xạ lại trên đầu thu và được giải mã thành tín hiệu để đọc hoặc ghi trên đỉa tròn.
Các thông số
Tốc Độ (Speed) để đọc, hoặc ghi dử liệu trên máy của ổ đỉa được biểu hiện qua (2X,4X,...24X) . X càng lớn tốc độ càng nhanh
Phân loại
Loại chỉ đọc (Read-only Disk Drive) chỉ dùng để truy cập dữ liệu trên các đĩa đã ghi dữ liệu từ trước.
Loại chỉ ghi (Write-only Disk Drive) dùng để ghi dữ liệu trên đĩa trắng CD-R qua một phần mềm ghi đĩa (CD burner) như Nero Burning ROM, Roxio Easy Creator v.v.
Loại đọc và ghi (Read, Write Disk Drive) có thể đọc, ghi, xóa dữ liệu trên đĩa, thường ký hiệu với 3 thông số trên ổ đĩa như Ví dụ 52x32x52 Tức là ổ đĩa có thể đọc dữ liệu tối đa 52x, ghi dữ liệu trên đĩa ghi xóa ở tốc độ 32x, ghi dữ liệu trên đĩa ghi một lần ở tốc độ tối đa 52x (1x tương đương với 150Kb/giây).

ĐĨA DVD

DVD xuất hiện vào năm 2002, có tên ban đầu là Digital Video Disc (đĩa phim kỹ thuật số) rồi sau này chuyển thành Digital Versatile Disc (đĩa đa năng kỹ thuật số) là đĩa quang để lưu dữ liệu bao gồm phim có chất lượng hình ảnh và âm thanh cao, hay các dữ liệu máy tính nói chung.
DVD có nhiều điểm giống CD: chúng đều có đường kính 12 cm cho loại tiêu chuẩn, hay 8 cm cho loại nhỏ. Nhưng DVD có cách lưu dữ liệu khác, với cách nén dữ liệu và các lớp quang học có khả năng chứa nhiều dữ liệu hơn CD gấp 7 lần hoặc hơn thế nữa. Về cấu trúc phần mềm, DVD cũng khác CD ở chỗ chúng đều chứa hệ tập tin, gọi là UDF, một phiên bản mở rộng của tiêu chuẩn ISO 9660 cho CD chứa dữ liệu.
Có nhiều loại định dạng DVD:
DVD-ROM: Định dạng này thường được sử dụng để lưu phim. Chúng thường được "nén" nghĩa là có tồn tại một ma trận gốc được sử dụng làm khuôn để ghi thông tin và chúng không thể ghi đi ghi lại được.
DVD-R: còn được viết -R (cho recordable: ghi) là định dạng xuất hiện đầu tiên và mục đích ban đầu là để dùng cho việc lưu trũ phim video.
DVD+R: cũng giống như định dạng -R nhưng ra đời sau và phù hợp hơn -R trong việc lưu trữ dự liệu. Nó cho phép xem phim bất kỳ lúc nào, không cần đĩa phải hoàn chỉnh. Loại đĩa này có những khả năng kỹ thuật tốt hơn -R. Chúng ta không thể thấy sự khác biệt giữa đĩa -R và đĩa +R nếu nhìn bằng mắt thường.
DVD-RW và DVD+RW: Loại đĩa này giống loại đĩa -R và +R nhưng cho phép ghi và xóa nhiều lần.
Khả năng lưu trữ
Ban đầu có 4 loại DVD:
DVD-5: có một mặt và một lớp lưu thông tin, khả năng lưu trữ là 4.7 gigabyte
DVD-9: có một mặt và hai lớp lưu thông tin, khả năng lưu trữ là 8.5 gigabyte
DVD-10: có hai mặt và mỗi mặt có một lớp lưu trữ thông tin (phải lật đĩa DVD lại để xem mặt thứ hai), khả năng lưu trữ là 9.4 gigabyte
DVD-18: có hai mặt và hai lớp lưu thông tin mỗi mặt, khả năng lưu trữ là 17 gigabyte
Hiện tại, những đĩa DVD trên thị trường (đĩa phim, ca nhạc...) thương là loại DVD-9 bởi chúng cho một chất lượng âm thanh và hình ảnh cao hơn loại DVD-5.
llsoundandlightll@gmail.com 0906715077 - 0956180088

ĐỂ CÓ PHÒNG NGHE TỐT

Tạp âm, kích thước phòng, cách bố trí thiết bị và vật liệu cách âm… tất cả chúng có thể là những nguyên nhân mà bạn khó nhận ra. Tạp âm có thể xuất phát từ máy điều hoà, từ bên ngoài, từ chính dàn máy và thậm chí của chính phòng nghe tạo ra. Để biết được tạp âm xuất phát từ đâu, hãy nghe nhạc từ phía sau của loa.
Cách âm
Vải có tác dụng hút 70% âm bổng (treble) và phản hồi 100% âm trầm (bass), nếu sử dụng vải làm vật liệu cách âm thì sẽ cảm giác tiếng bass lớn hơn và tiếng treble. Âm thanh trong phòng kín được tạo từ âm thanh trực tiếp và âm thanh phản hồi, âm thanh trực tiếp được phát ra gần với loa còn âm thanh phản hồi sẽ vang xa. Khi sử dụng vải làm thiết bị cách âm, âm phản hồi sẽ bị hấp thụ, giúp bạn thấy âm thanh mượt mà hơn. Tại các phòng chiếu phim, phòng karaoke, người ta thường sử dụng vải nhung làm thiết bị cách âm. Do đó, tối kỵ treo quá nhiều tranh ảnh, các vật liệu cứng trong phòng nghe, chúng sẽ làm bạn có cảm giác âm thanh không trong, có nhiều tạp âm.
Đặt loa
Một phòng nghe tiêu chuẩn phải có kích thước từ 15m2 trở lên, với diện tích này mới đủ để đặt các loa cách nhau ít nhất từ 3 m, và cách người ngồi khoảng 3,5 m và cách tường 1 m. Việc bố trí chỗ đặt loa còn phụ thuộc vào kiểu dáng loa. Với những trần nhà cao quá 3m nên sử dụng những loa tháp, chú ý là với phòng nghe nhạc không nên thiết kế trần dạng vòm vì như vậy sẽ tạo nên tiếng dội không mong muốn (hiệu ứng echo).
Với những trần nhà quá cao nên sử dụng loa tháp, 5 nguyên tắc sau giúp bạn xác định được vị trí đặt loa một cách thích hợp:
- Đặt cách xa tường và sàn nhà để tránh tiếng dội của âm bass.
- Dùng tai nghe để kiểm tra khoảng cách của các loa cho phù hợp. Thông thường hai loa tạo thành một tam giác đều là hợp lý nhất.
- Đặt loa hướng về phía người nghe.
- Tâm của màng loa tương đương với chiều cao ngang tai của người nghe.
- Khoảng trống sau lưng của người nghe càng lớn càng tốt. Có thể đặt một tấm hút âm bằng vải hoặc xốp để chống các âm thanh dội từ tường lại.
Dây loa và amplifier
Về nguyên tắc, ta nên đặt amplifier càng gần vị trí đặt loa càng tốt, như thế sẽ giảm được tổn hao công suất trên dây loa. Ngoài ra, chất lượng của dây loa ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng âm thanh, có những bộ dây lên tới hàng trăm USD. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại nhãn hiệu dây loa nổi tiếng như: Van Den Hui, Transparent, Synergitic hay Purist Audio. Chất lượng của dây loa phụ thuộc vào chất liệu chế tạo nên chúng như vàng, bạc, đồng, bạch kim hay hợp kim…, phụ thuộc vào công nghệ chế tạo, tiết diện của dây (cũng chính là thương hiệu của nhà sản xuất).Tiết diện của dây phải tỷ lệ thuận với độ dài mới có thể đảm bảo được chất lượng của âm thanh. Nếu dây có chiều dài 5 m trở xuống thì tiết diện của dây phải vào khoảng 1,5mm2, trên 5 m thì có tiết diện là 2,5mm2.
Chọn loa
Trên thị trường có vô số loa với giá và chất lượng khác nhau. Thông thường, giữa giá, thương hiệu và chất lượng âm thanh không phải lúc nào cũng có quan hệ thuận chiều. Nhiều bộ loa đắt tiền mà trình diễn lại rất "ít tiền". Ngược lại, có những loa khá tốt mà giá lại chỉ bằng một phần những bộ loa đắt tiền kia.
Vậy nên, khi bắt đầu mua loa, bạn hãy chọn điểm xuất phát là các tạp chí viết về các sản phẩm nghe nhìn, nơi có những bài viết khá khách quan về chất lượng các loa. Kế đến là tham khảo bạn bè có sự hiểu biết và kinh nghiệm về âm thanh nhiều năm. Sau đó, bạn lập một danh sách các sản phẩm cảm thấy thực sự xứng đáng được quan tâm trên cơ sở nhu cầu và khả năng tài chính của bạn. Giờ đây, danh sách các "ứng viên" sẽ ngày càng ngắn gọn hơn, giúp bạn chọn lựa nhanh chóng và dễ dàng.
Sự chọn lựa cẩn thận sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng, thậm chí bạn còn có thể mua được cặp loa hay hơn mức mà bạn nghĩ. Xin giới thiệu vài tiêu chí bạn nên căn cứ khi chọn sản phẩm loa.
1. Kích thước, hình thức và sự tương thích với phòng nghe
Một số người thích kích thước loa phối hợp hài hòa với nội thất trong phòng. Ngược lại, có người lại muốn hệ thống hi-fi trở thành bộ phận trung tâm trong phòng và họ không quan tâm đến kích thước to hay nhỏ của loa. Hình thức loa cũng là yếu tố cần quan tâm. Một thùng loa xấu xí ắt hẳn sẽ gây phản cảm khi nó đứng bên cạnh những bộ đồ gỗ quan trọng.
Nhiều cặp loa hi-end có kết cấu rất đẹp đã tôn thêm nét sang trọng trong ngôi nhà của bạn. Tuy nhiên, những bộ loa đó thường khá đắt. Khái niệm loa "book-shelf" chỉ dùng cho các cặp loa nhỏ, nhưng loa "giá sách" sẽ không bao giờ trình diễn được hết vẻ đẹp âm thanh vốn có khi bị đặt trên giá sách. Nên đặt chúng trên kệ loa, bởi vị trí này giúp loa tạo âm hình đẹp và trong trẻo hơn.
2. Tương thích giữa loa và hệ thống âm thanh
Đầu tiên là độ nhạy của loa, tạm hiểu là độ lớn âm thanh mà loa có thể đưa ra với một mức công suất ampli nhất định. Độ nhạy của loa được đo bằng mức nén âm thanh từ khoảng cách 1 m khi loa được cấp công suất 1 W. Độ nhạy là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu suất của loa ở mức công suất ampli nhất định.
Độ nhạy cứ giảm 3 dB thì ampli phải có mức công suất cao gấp đôi thì mới đưa ra được mức âm tương tự. Chọn loa có độ nhạy trên 90 dB sẽ dễ ghép với các ampli. Một yếu tố khác về điện tử mà bạn cần chú ý là trở kháng loa. Nếu trở kháng loa càng thấp thì yêu cầu đặt ra đối với ampli phải có trở kháng ra cũng thấp tương tự. Nếu bạn chọn loa trở kháng thấp, phải chọn ampli trở kháng ra nhỏ hơn hoặc bằng trở kháng của loa.
Về nhạc tính, bạn nên chọn những loa có âm thanh càng tự nhiên càng tốt.
3. Sở thích nghe nhạc
Loa hoàn hảo là loa đáp ứng được các thể loại nhạc, từ thính phòng giao hưởng đến nhạc rock (đáp ứng được cả dải tần số audio) nhưng thực tế các loa như thế thường thì rất đắt tiền mà công suất thường không lớn, do đó tùy mục đích sử dụng (cho thể loại nhạc) mà ta chọn kiểu loa thích hợp. Nếu bạn hay nghe nhạc hòa tấu và phòng nghe nhỏ thì loa book-shelf là sự lựa chọn thông minh. Ngược lại, nếu bạn mê nhạc rock thì cần âm thanh có độ động lớn, độ mở tần số thấp cao và tiếng bass khỏe nên có thể chọn loa cột, loa lớn; nếu sử dụng cho hệ thống âm thanh công suất lớn (âm thanh quán bar, âm thanh vũ trường, âm thanh sân khấu, ..) thì nên chọn loa có hiệu suất cao và loa đáp ứng từng dải tần số riêng biệt như dải tần số cao (high range), dải tần số trung bình (midrange), dải tần số thấp (bass, sub-bass).
Mỗi loại loa có ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Tìm được loa hợp sở thích nghe nhạc, bạn sẽ được thưởng thức màn trình diễn tốt nhất. Khi đi mua loa, hãy mang theo vài đĩa CD có những thể loại nhạc bạn ưa thích nhất để thử. Cặp loa nào đáp ứng tốt nhất là cặp loa bạn nên chọn mua về.
Chọn nơi bán hàng: Đầu tiên, hãy chọn các cửa hàng âm thanh sẵn lòng cho khách hàng nghe thử nhiều loa khác nhau và tặng bạn những lời khuyên bổ ích về việc phối ghép hệ thống cũng như chỉ cho bạn thấy ưu nhược điểm của từng loại loa. Bạn có thể liên hệ Trung tâm nghiên cứu Âm thanh - Ánh sáng Đông Dương (18 Bàu Cát, P.14, Q. Tân Bình, TPHCM) để tư vấn khi cần.
Cách bố trí loa
Theo các tài liệu, kinh nghiệm thu thập, phòng nghe có thể quyết định tới 30 – 40% chất lượng âm thanh. Ít ai có điều kiện thiết kế phòng nghe nhạc trước khi xây nhà, mà các thiết bị âm thanh thường được đưa vào căn phòng xây sẵn.
Do vậy, trong các gia đình, phòng nghe nhạc thường có hình chữ nhật. Các nhà âm học đã xây dựng phương pháp công thức tính toán vị trí đặt loa tối ưu dựa trên chiều rộng phòng nghe. Khoảng cách giữa hai loa, và khoảng cách từ loa tới tường chắn phía sau loa bằng 44,7% chiều rộng phòng nghe. Ví dụ, phòng nghe có chiều rộng 4 mét thì khoảng cách giữa 2 loa và khoảng cách từ loa đến tường chắn phía sau loa là 1,778 mét.
Trên thực tế, những loa thùng kín (không lỗ thông hơi) dễ bố trí hơn những loa bass reflex (có lỗ thông hơi). Với loa có lỗ thông hơi, thì loa có lỗ thông hơi phía trước dễ bố trí hơn loa có lỗ thông hơi phía sau.
Loa thùng kín, hoặc lỗ thông hơi phía trước, bạn có thể đặt loa sát tường hơn (trong trường hợp phòng nhỏ hẹp).
Trong điều kiện phòng nghe chật hẹp, người ta thường bố trí vị trí người ngồi nghe và hai loa thành hình tam giác đều để khai thác tốt nhất hiệu ứng stereo tạo âm hình chuẩn xác nhất cho âm thanh. Ngoài ra, còn có những yếu tố âm học rất phức tạp chi phối phòng nghe, do đó có những phòng nghe bố trí vật dụng rất hỗn độn nhưng âm thanh vẫn hay, ngược lại có những phòng nghe rất thoáng nhưng âm thanh nghe lại không rõ ràng.
Tiêu tán âm
Trong một phòng nghe, thường xảy ra hiện tượng phản xạ sóng âm (tạo tiếng vang). Sóng phản xạ này thường sai pha so sóng tới phát ra từ loa, khiến âm thanh không còn trung thực. Cách tốt nhất để triệt tiêu hiện tượng này là... đập hết tường đi. Nhưng tất nhiên ít ai làm như vậy, giải pháp là bài trí các vật liệu tiêu tán âm phổ biến như thảm, xốp đệm, khung gỗ.
Người ta đặc biệt chú ý đặt vật hút âm ở những góc của phòng nghe, vì sóng âm đi đến những khu vực này thường tạo thành những phản xạ âm học rất phức tạp. Cách khắc phục đơn giản, phổ biến là dựng những cột vải tròn ở những góc này.
Ngoài ra, trong phòng nghe thường xảy ra hiện tượng cộng hưởng sóng âm. Hậu quả của nó là mức âm lượng nghe được sẽ khác nhau ở các vị trí khác nhau trong phòng nghe (như tiếng bass thường mạnh hơn khi bạn ngồi ở góc phòng, sát tường, hay khi bạn ngồi dưới đất). Cách khắc phục là thực nghiệm dịch chuyển vị trí loa đến khi có được âm thanh ưng ý tại vị trí nghe.
Nhiều người thừa nhận: “Âm thanh hay, là âm thanh có qua ít nhất một lần phản xạ”. Do vậy, người ta không tìm cách tiêu âm hoàn toàn, mà chỉ bố trí những vật dụng tán âm ở phía sau loa, và hai bên hông phòng nghe. Vật dụng tán âm đơn giản là những thanh gỗ ghép tạo khe tán âm.
Tất nhiên, tiêu, tán âm đến mức độ nào còn tuỳ thuộc vào sở thích của người nghe. Những người thích tiếng bass thường không bố trí quá nhiều những vật dụng hút âm.
Kích thước phòng
Phòng quá nhỏ hẹp sẽ không thể nghe được những âm thanh tần số quá thấp cho dù thiết bị vẫn phát dải tần số đó. Để nghe được tần số 20Hz, cần phòng nghe có đường chéo tối thiểu 8,53 mét. Tức là, phòng càng nhỏ, càng mất bass. Đây là lợi thế thuộc về những người có “nhà cao cửa rộng” khi nghe âm trầm.
Tuy nhiên, đa số dân nghe nhạc chấp nhận mức âm thanh có dải tần thấp tới 50Hz. Nghĩa là chỉ cần phòng nghe có đường chéo tối thiểu 3,41 mét.
Nếu bạn có điều kiện thiết kế một phòng nghe ngay khi dựng nhà, hãy áp dụng phương pháp tỷ lệ vàng về kích thước phòng: cao x rộng x dài = 0,618 x 1 x 1,618. Đây là tỷ lệ người ta rút ra được khi đo thực nghiệm các công trình xây dựng của người Hy Lạp cổ đại.
Tăng trọng lượng, dùng thêm chân kim (skipe/cone) giúp loa cải thiện chất âm
Một trong những mẹo khá hay mà cũng rất cơ bản là tăng trọng lượng của loa lên. Tăng trọng lượng đồng nghĩa với việc ổn định rung chấn, giảm méo tiếng, đặc biệt cải thiện chất âm của dải trầm. Ở một số model loa, nhà sản xuất còn thiết kế những khoang hở để bạn có thể thêm các chất liệu như cát, đá... nhằm tăng trọng lượng cơ bản. Chẳng hạn như đôi loa Von Schweikert VR3 (khoảng 2.000 USD), hệ thống loa con được ổn định bởi một khoang rỗng, bạn có thể dùng cát hoặc chì để cho vào, sau khi dùng khá nhiều đạn chì súng hơi lắp đầy khoảng hở, dài trầm của loa trở nên chắc hơn, âm mid và treble rõ ràng. Tuy nhiên, nếu bạn đang sở hữu một đôi loa bình thường, bạn vẫn có thể dùng những tấm đá granite khổ 300 x 300 mm, dày 20 - 30 mm để lót dưới chân đế. Ngay trên đỉnh thùng loa, bạn cũng có thể đặt thêm một tấm đá tương tự như vậy. Để chống trầy xước, bạn nên chuẩn bị những tấm vải mỏng để lót giữa mặt thùng và các tấm đá. Ngoài ra, để những rung động được triệt tiêu, đem lại âm trầm gọn và khỏe, chúng ta có thể trang bị thêm bộ châm kim (nếu loa không có). Hiện tại, một số cửa hàng hi-fi vẫn có những bộ kim ngoại hoặc tự chế gia công từ đồng, ...
Năng âm lượng âm thanh trong dải tần số midrange và treble
Có thể nâng âm lượng ở dải tần số midrange hoặc treble bằng cách gắn thêm một còi tự tạo, có thể làm từ gỗ hoặc còi composite. Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến đối với các audiophile thế giới. Tuy nhiên, việc dùng thêm còi sẽ làm vùng nghe "tốt" bị thu hẹp hơn.
Loa và thời gian sử dụng
Do tác động của trọng lực, sau một thời gian hoạt động, voice coil của loa bị lệch khỏi tâm. Một số trường hợp lệch xuống chạm đến một cực của nam châm gây nên những âm thanh rè khó chịu. Cách xử lý hiệu quả mà không cần phải sửa hay thay loa là xoay loa 180 độ, trọng lực sẽ tác động lên voice coil và kéo loa trở về vị trí trung tâm. Trong một số trường hợp, voice coil lệch tâm quá xa, cuộn dây loa chạm mạnh vào nam châm gây nên tiếng rè lớn, lúc này, cách xoay loa 180 độ như trên không cải thiện được, bạn nên nhờ thợ chỉnh lại cuộn voice coil và màng loa, hoặc tốt hơn nữa là .. "thay loa mới".
llsoundandlightll@gmail.com 0906715077 - 0956180088